Chủ Nhật, 28 tháng 2, 2016

Bộ Tài chính nói về việc làm được 10 đồng, thuế ăn 4 đồng

Bộ Tài chính vừa có ý kiến về việc doanh nghiệp làm được 10 đồng phải đóng thuế 4 đồng được phản ánh trên báo chí tuần qua.

Bộ Tài chính nói về việc làm được 10 đồng, thuế ăn 4 đồng

Ảnh minh họa

.

Trong tuần qua, một số báo có phản ánh vấn đề doanh nghiệp Việt Nam phải dành gần 40% lợi nhuận để nộp thuế là quá lớn, vượt quá mức chịu đựng của doanh nghiệp làm ảnh hưởng tới sức cạnh tranh và là một trong những nguyên nhân khiến số doanh nghiệp Việt Nam giải thể, dừng hoạt động tăng cao. 

Theo Bộ Tài chính trong văn bản mới nhất được phát đi chiều tối 28/2, với cách đặt vấn đề “Làm được 10 đồng, thuế “ăn” 4 đồng” dẫn đến cách hiểu tỷ lệ thu thuế/lợi nhuận của doanh nghiệp tại Việt Nam ở mức cao là chưa đúng, cần phải được phân tích, tách bạch để có cách hiểu chính xác. 

Đối với thuế, phí trong lĩnh vực tài chính, là khoản huy động của Nhà nước từ doanh nghiệp, cá nhân trong xã hội nhằm phục vụ tài chính cho các hoạt động của Nhà nước và mang tính chất hoàn trả gián tiếp.

Để so sánh tương quan giữa các quốc gia, thường sử dụng tiêu chí về tỷ lệ % giữa số huy động từ thuế, phí tính trên tổng sản phẩm quốc nội (GDP).

So với các nước, việc xây dựng, tính toán số thu ngân sách ở Việt Nam có đặc thù cần lưu ý khi so sánh về mức độ động viên ngân sách của Việt Nam với các nước.

Cụ thể như sau: Hiện nay, số thu ngân sách từ thuế, phí của nhiều nước theo số liệu được tổ chức quốc tế tổng hợp và công bố thường chỉ là số thu của ngân sách của chính quyền trung ương do hệ thống ngân sách của các nước này có sự độc lập giữa các cấp ngân sách.

Trong khi đó, hệ thống ngân sách của Việt Nam bao gồm 4 cấp: trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã. Vì vậy số thu ngân sách được công bố, công khai hàng năm luôn bao gồm nguồn thu của tất cả 4 cấp ngân sách trong hệ thống ngân sách (tức là bao gồm cả Trung ương và địa phương).

Về các chỉ tiêu trong tổng thu cân đối ngân sách nhà nước, theo phương thức thống kê thu ngân sách của Việt Nam thì nguồn thu từ dầu thô, từ quyền sử dụng đất, từ bán nhà thuộc sở hữu nhà nước cũng được tính chung vào nguồn thu ngân sách, trong đó riêng thu từ dầu thô đang được xếp vào khoản thu từ thuế như thu từ các sắc thuế khác.

Tuy nhiên xét về bản chất thì các khoản thu này không mang tính chất là khoản động viên từ nền kinh tế.

Ở nhiều nước, các khoản thu này được xếp vào các nhóm khoản thu “từ vốn” (thu từ bán tài nguyên quốc gia) và không được tính vào nguồn thu ngân sách như là khoản động viên từ thuế, phí.

Ví dụ như trường hợp của Trung Quốc, nguồn động viên ngân sách không thể hiện các khoản thu từ dầu thô, thu từ đất đai, thu từ bán tài sản thuộc sở hữu nhà nước như ở Việt Nam.

Do đó, để đảm bảo tính chính xác, phản ánh đúng thực tế thì việc so sánh về tỷ lệ thu ngân sách nhà nước tính trên GDP ở Việt Nam với các nước cần phải dựa trên các tiêu chí đồng nhất và cùng bản chất.

Theo số liệu thống kê thì tỷ trọng tổng số thu ngân sách nhà nước trên GDP của Việt Nam giai đoạn năm 2011-2015 khoảng 23,3%, trong đó tỷ lệ động viên từ thuế, phí khoảng 20,9%.

Trong khi tỷ trọng tổng số thu ngân sách nhà nước trên GDP của một số nước trong khu vực giai đoạn 2011-2015 như Thái Lan là 23%, Indonesia là 16,6%, Lào 23,4%, Malaysia là 24,5%, Ấn Độ là 19,5%...

Nếu chỉ so sánh riêng tỷ lệ huy động từ thuế, phí tính trên GDP thì với những đặc thù về cơ cấu thu và phương thức hạch toán thu ngân sách có sự khác biệt giữa Việt Nam và các nước như phân tích ở trên thì nguồn số liệu ngân sách ở Việt Nam được sử dụng để so sánh với các nước cần phải loại trừ các khoản thu có tính chất khác biệt, các khoản thu có bản chất “thu từ vốn” và không mang tính chất động viên từ hoạt động kinh tế.

Cụ thể, tính trong giai đoạn 5 năm từ 2011-2015: Tỷ lệ động viên ngân sách từ thuế, phí (bao gồm cả thu từ dầu thô) ở Việt Nam khoảng 20,9% GDP.

Nếu loại trừ thu từ dầu thô thì tỷ lệ động viên ngân sách từ thuế, phí tính chung ở Việt Nam khoảng 17,2% GDP; nếu tiếp tục loại trừ thu từ tiền sử dụng đất thì tỷ lệ động viên ngân sách từ thuế, phí ở Việt Nam vào khoảng 15,6%.

Về thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN), trong thời kỳ 10 năm từ 1999 đến 2009, thuế suất thuế TNDN đã được điều chỉnh giảm từ mức 32% năm 1999, mức 28% từ năm 2004 và 25% từ năm 2009 theo đúng chiến lược, lộ trình cải cách thuế.

Mức thuế suất phổ thông từ 2014 là 22% và từ 1/1/2016 xuống mức 20% và mức thuế suất ưu đãi là 10% và 17%.

Nếu so với mức bình quân chung của 83 nước trên thế giới là 27%; so với một số nước trong khu vực có mức thuế suất phổ thông 30% như Philipines, Thái Lan; Trung Quốc 25%, Malaysia 25% thì mức thuế suất phổ thông của Việt Nam được đánh giá là thấp, Bộ Tài chính cho biết.


Thương hiệu số 1 Việt Nam rơi vào tay tỷ phú Thái

Rót hàng tỷ USD vào các thương hiệu nổi tiếng từ sản xuất vật liệu xây dựng cho đến đồ uống nước giải khát, các ông chủ người Thái đang tấn công vào trung tâm chế xuất của VN.

Cuối tháng 12/2015, CTCP Tập đoàn Masan (MSN) của doanh nhân kín tiếng Nguyễn Đăng Quang đã ký kết thỏa thuận đối tác chiến lược với Singha Asia Holding Pte Ltd. Theo đó, Singha của người Thái bỏ ra 1,1 tỷ USD để sở hữu 25% cổ phần Masan Consumer Holdings và 33,3% cổ phần Masan Brewery. Vào thời điểm đó, Masan Consumer Holdings sở hữu 66,7% cổ phần Masan Brewery.

Thương hiệu số 1 Việt Nam rơi vào tay tỷ phú Thái

Quy trình sản xuất của người Việt được rót vốn từ Thái Lan.

Ngay trong tháng 1/2016, doanh nghiệp Thái Lan này đã tiến hành giải ngân hoàn thành đợt góp vốn đầu tiên trị giá 650 triệu USD vào Masan, trong đó 50 triệu để sở hữu 33,3% cổ phần Masan Brewery.

Khoản tiền 600 triệu USD chuyển vào Masan Consumer Holdings được sử dụng để mua thêm cổ phần của Masan Consumer - doanh nghiệp quản lý mảng kinh doanh thực phẩm và đồ uống không cồn của Masan.

Masan Consumer được biết đến là một doanh nghiệp hàng đầu của Việt Nam trong lĩnh vực sản xuất hàng gia vị, nước tương, cà phê và đồ uống.

Trước đó, Masan Consumer liên tiếp thâu tóm nhiều thương hiệu nổi tiếng tại Việt Nam như nước khoáng Vĩnh Hảo, Vinacafe Biên Hòa (VFC)… Masan Consumer cũng đã mua được một lượng cổ phần lớn của Cholimex Food để trở thành nhà sản xuất tương ớt lớn nhất tại thị trường nội địa. Masan Consumer cũng đã có kế hoạch mua 100% cổ phần của Saigon Nutri Food, một doanh nghiệp chuyên về xúc xích và đồ hộp.

Cuối năm 2012, một tập đoàn lớn của Thái đã làm rúng động thị trường mua bán sáp nhập (M&A) Việt Nam với thương vụ chi 240 triệu USD (khoảng 5 ngàn tỷ đồng khi đó) để nắm cổ phần chi phối một thương hiệu gạch lát bằng gốm lớn nhất Việt Nam.

Tập đoàn xi măng Siam (SCG) đã bỏ ra 7,2 tỷ baht để sở hữu 85% cổ phần CTCP Prime Group để trở thành công ty gạch ceramic lớn nhất thế giới với sản lượng lớn tới hơn 220 triệu m2/năm. Việt Nam trở thành quốc gia thứ hai cung ứng gạch men lớn nhất cho SCG.

Tập đoàn SCG của Thái còn đầu tư vào một số doanh nghiệp vật liệu xây dựng khác của Việt Nam như Xi măng Bửu Long. Bên cạnh đó, SCG còn nắm giữ hàng chục phần trăm tại 2 DN nhựa lớn nhất Việt Nam là Tiền Phong và Bình Minh...

Khoản đầu tư vào Nhựa Bình Minh (BMP) và Nhựa Tiền Phong (NTP) được thực hiện bắt đầu từ năm 2012 bởi Nawaplastic Industries, một thành viên của Nawaplastic - công ty chuyên sản xuất ống nhựa PVC tại Thái Lan. Hiện tại, giá trị khoản đầu tư của tập đoàn Thái ở mỗi đơn vị này đã lên đến cả ngàn tỷ đồng.

Đại gia Việt còn lại gì?

Hiện tượng các ông lớn Thái đổ tiền vào các doanh nghiệp sản xuất nổi tiếng của Việt Nam diễn ra mạnh mẽ trong vài năm gần đây. Không chỉ đầu tư trực tiếp vào Việt Nam, các tập đoàn lớn của Thái Lan còn nhắm tới các thương hiệu hàng đầu thông qua hình thức mua bán sáp nhập (M&A).

Năm 2013, Nawaplastic Industries của Thái Lan đã bày tỏ ý muốn nâng tỷ lệ sở hữu tại Nhựa Bình Minh lên kịch room 49%. Kế hoạch thoái vốn của Tổng Công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) tại BMP và NTP khiến nhiều NĐT trong nước lo ngại 2 doanh nghiệp hàng đầu ngành nhựa có thể sẽ nhanh chóng rơi vào tay người Thái.

Thương hiệu số 1 Việt Nam rơi vào tay tỷ phú Thái

Những thương hiệu bị người Thái "tấn công"

Nawaplastic Industries (Saraburi) là một DN con do Thai Plastic and Chemicals PCL (TPC) nắm 100% vốn. Trong khi đó, TPC lại do SCG nắm 45% vốn sở hữu.

Có thể thấy, chỉ với một tập đoàn lớn SCG, người Thái đã tấn công vào hàng loạt các thương hiệu lớn của Việt Nam trong lĩnh vực vật liệu xây dựng. SCG muốn mở rộng mạng lưới sản xuất của mình ngay tại các nước trong khu vực.

Về phương diện tích cực, Việt Nam được xem là một thị trường khá hấp dẫn. Đây cũng là một dấu hiệu cho thấy, Việt Nam đang trở thành trung tâm chế biến và chế tạo của thế giới, như đánh giá của nhiều chuyên gia trên thế giới.

Tuy nhiên, sự rơi rụng nhanh chóng của nhiều thương hiệu hàng đầu, trong đó nhiều thương hiệu có lịch sử phát triển lâu dài, khiến không ít người cảm thấy nuối tiếc. Tốc độ hội nhập nhanh của Việt Nam vào nền kinh tế thế giới mở ra nhiều cơ hội nhưng cũng mang đến nhiều thách thức.

Dòng vốn lớn của quốc tế sẵn sàng chảy vào và sẽ có nhiều người Việt sẵn lòng bán đi cổ phần tại các doanh nghiệp đầu ngành.

Sự hợp tác thường có lợi cho cả 2 bên. Như trong trường hợp Prime, cổ đông của doanh nghiệp này bỗng chốc thịnh vượng nhờ núi tiền từ đại gia Thái Lan. Prime cũng sẽ phát triển hơn nhờ công nghệ của người Thái.

Còn như trong trường hợp Masan và Singha, sự hợp tác đồng nghĩa với mở rộng thị trường cho cả 2 bên. Masan có thêm vốn để lành mạnh hơn tình hình tài chính của mình, đảm bảo cho chiến lược phát triển lâu dài…

Mặc dù vậy, những bước đi của người Thái luôn khiến nhiều nhà đầu tư Việt e ngại. Người Thái có chiến lược phát triển sản xuất và bán hàng hóa rất bài bản. Họ đã thống trị trong nhiều ngành tại Việt Nam như trong lĩnh vực thức ăn chăn nuôi và giống gia cầm và rất có thể còn thống lĩnh nhiều lĩnh vực khác trong tương lai.


Thời kỳ long đong của 'con gà đẻ trứng vàng' HAGL Agrico

Từ chỗ được thị trường đặt nhiều kỳ vọng khi là doanh nghiệp nông nghiệp lớn nhất Việt Nam bước lên sàn chứng khoán, HAGL Agrico giờ đây lại long đong giảm điểm..

Kỳ vọng...

Ngày 20/7/2015, CTCP Nông nghiệp Quốc tế Hoàng Anh Gia Lai - HAGL Agrico (mã HNG) đã chính thức giao dịch trên Sở Giao dịch chứng khoán TP.HCM (HOSE). Với hơn 708 triệu cổ phiếu tương đương vốn điều lệ 7.081 tỷ đồng, HAGL Agrico lúc đấy là doanh nghiệp về nông nghiệp có quy mô lớn nhất của Việt Nam được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán.

HAGL Agrico hoạt động chủ yếu trên hai lĩnh vực, bao gồm trồng cây công nghiệp ngắn và dài ngày như mía đường, cao su, cọ dầu, ngô và chăn nuôi bò. Công ty chủ trương tham gia từ công đoạn trồng trọt đến thu hoạch và chế biến.

Công ty này được thành lập năm 2010, khi CTCP Hoàng Anh Gia Lai thực hiện chương trình tái cấu trúc tập đoàn, nhiều công ty hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp trước đó đều được chuyển về HAGL Agrico.

Trong 5 năm hoạt động, vốn điều lệ của HAGL liên tục tăng, từ 484 tỷ đồng khi thành lập nay đã lên đến hơn 7.081 tỷ đồng. Hiện HAGL chỉ có duy nhất một cổ đông lớn là HAGL với tỷ lệ cổ phần nắm giữ chiếm 79,52%.

Là gương mặt mới, HAGL Agrico được kỳ vọng sẽ tạo nên được kỳ tích vượt mặt công ty mẹ HAG khi được đánh giá là có hệ số nợ không lớn, tài sản nắm trực tiếp, trong khi đó HAG có nợ nhiều và phải huy động vốn.

Ngày đầu tiên chào sàn, từ mức giá khởi điểm là 28.000 đồng, cổ phiếu HNG đã tăng lên 33.500 đồng/đơn vị, đưa vốn hóa thị trường của HNG tại phiên giao dịch ngày 20/7 đạt gần 23.723 tỷ đồng, trở thành một trong những công ty có vốn hóa lớn nhất trên sàn HSX, thậm chí lớn hơn công ty mẹ là CTCP Hoàng Anh Gia Lai (HAG).

"Lao dốc không phanh"

Một thời gian khá dài sau khi lên sàn, cổ phiếu HNG được giao dịch khá ổn định, trong khoảng từ 28.000 đồng/đơn vị đến 30.000 đồng/đơn vị. Tuy nhiên, đến khoảng giữa tháng 12 năm ngoái, cổ phiếu này bắt đầu "lao dốc không phanh" theo cổ phiếu công ty mẹ HAG.

Từ ngày 25/1 đến 18/2/2016, liên tục trong 14 phiêu cổ phiếu HNG trong tư thế "đo sàn", một điều chưa từng có trong lịch sử giao dịch của "ông lớn" ngành nông nghiệp này. Và ngày 16/2 chắc chắn sẽ là một ngày không thể nào quên đối với Bầu Đức cũng như nhà đầu tư của HNG khi cổ phiếu này lần đầu tiên rớt xuống dưới mệnh giá, đạt 9.500 đồng/đơn vị. Từ đó cho đến nay, mặc dù có 3 phiên tăng trần (vào ngày 19/2, 22/2, 23/2) do hoạt động bắt đáy của nhà đầu tư nhưng cũng không thể giúp cổ phiếu này "ngoi lên" quá mệnh giá. Kết thúc phiên giao dịch ngày 26/2, cổ phiếu HNG tiếp tục giảm điểm, chốt phiên ở mức 8.600 đồng/đơn vị.

Tính riêng từ đầu năm 2016, cổ phiếu HNG đã "bốc hơi" tới 70,34% giá trị. Còn nếu so với mức giá đỉnh, tức là mức giá trong phiên đầu tiên HNG lên sàn, giá trị cổ phiếu này đã mất tới 74,3% giá trị. Theo đó, khoảng gần 17.633 tỷ đồng vốn hóa công ty đã "cuốn theo chiều gió".

Thời kỳ long đong của 'con gà đẻ trứng vàng' HAGL Agrico

Đợi phát hành cổ phiếu kỳ lạ

HAGL Agrico có lẽ là một trong những doanh nghiệp có đợt phát hành cổ phiếu riêng lẻ "kỳ lạ" nhất trong lịch sử hai sàn khi có hai nhà đầu tư "hy sinh" chịu lỗ tới 1.100 tỷ đồng để mua 59 triệu cổ phiếu HNG với giá 28.000 đồng/đơn vị, trong khi thị giá hiện tại của cổ phiếu này chỉ quanh mức 9.000 đồng/đơn vị.

Nhiều câu hỏi đã được đưa ra, hai "mạnh thường quân" kia là ai? Vì sao họ sẵn sàng chịu lỗ một khoản tiền khổng lồ để cữu HNG? Nhà băng nào đứng sau để rót vốn?

Và thật bất ngờ khi tìm ra, 2 "vị cứu tinh" của HNG lại là những doanh nghiệp còn khá non trẻ, với quy mô khiêm tốn chỉ 30 tỷ đồng. Hai cá nhân đứng đầu doanh nghiệp cũng là những doanh nhân còn khá trẻ, thế hệ 8x. Cụ thể, công ty TNHH Đầu tư Cao su An Thịnh - mua 31,5 triệu cổ phiếu HNG, do ông Nguyễn Công Thành đứng ra đăng ký là chủ sở hữu - Giám đốc công ty. Ông Thành sinh năm 1982.

Trong khi đó, Công ty TNHH Đầu tư cao su Cường Thịnh, mua 27,5 triệu cổ phiếu HNG, do ông Trần Tiến Pháp làm Chủ tịch. Ông Pháp sinh năm 1983.

Cả hai doanh nghiệp đều đăng ký lần đầu vào tháng 3/2014, có chung địa chỉ tại lầu 14, số 72 Lê Thánh Tôn, phường Bến Nghé, quận 1, TP.HCM. Trong đó Cao su An Thịnh đăng ký thành lập vào ngày 11/3/2014 và Cao su Cường Thịnh đăng ký lần đầu vào ngày 19/3/2014.

Và câu hỏi đặt ra là với 30 tỷ đồng, vì lý do gì hay có một bàn tay khác đứng phía sau mà cả hai công ty chi 1.652 tỷ đồng để mua số cổ phần phát hành riêng lẻ của HNG, để rồi lại chịu lỗ tới 70% số tiền bỏ ra? Và những doanh nghiệp này lấy đâu ra khoản tiền khổng lồ để mua cổ phiếu?

Tiếp tục đi tìm câu trả lời, được biết, 2 đơn vị còn có mối quan hệ chung với một nhân sự thuộc HNG và cả công ty mẹ Hoàng Anh Gia Lai. Cụ thể, 2 doanh nghiệp này đã góp 1.465 tỷ đồng vào Công ty TNHH Đầu tư và Phát triển cao su Đông Dương. Theo đó, Cường Thịnh góp 691 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 47,17% vốn và An Thịnh góp 774 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 52,83% vốn. Trong khi đó, Tổng Giám đốc và người đại diện pháp luật của Đông Dương là ông Lê Hồng Phong – hiện đang là Trưởng BKS của HNG kiêm Phó phòng Kiểm toán nội bộ HAG.

Không những vậy, cả hai doanh nghiệp này đều có quan hệ với một tổ chức tín dụng duy nhất: Ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank).

Hiện VPBank đang cho Cao su Cường Thịnh vay dài hạn gần 450 tỷ đồng, khoản dư nợ này đã được duy trì ít nhất trong 1 năm qua.

Đối với Công ty TNHH Đầu tư Cao su An Thịnh, tổ chức tín dụng đang quan hệ của doanh nghiệp này bao gồm VPBank và VPBank - CN TP.HCM.

Trong đó, VPBank đang cho Cao su An Thịnh vay dài hạn số tiền tương đương với số tiền cho Cao su Cường Thịnh vay: xấp xỉ 450 tỷ đồng.

Ngoài ra, VPBank - CN TP.HCM cũng đang cho Cao su An Thịnh vay ngắn hạn 27 tỷ đồng. Tính tổng dư nợ của Cao su An Thịnh tại hệ thống VPBank tính đến hiện tại là hơn 470 tỷ đồng.

Tiếp tục lao dốc...

Sau thương vụ "có một không hai" này, dường như bên được lợi nhiều nhất chính là HAGL Agrico khi doanh nghiệp có thể hoàn thành đợt phát hành và thu về hơn 1.652 tỷ đồng và bổ sung vào vốn chủ sở hữu.

Tuy nhiên, có thể thấy, có vẻ như nhà đầu tư không mấy hứng thú với "thành tích" này của doanh nghiệp khi cổ phiếu HNG vẫn tiếp tục giảm điểm và thậm chí giảm sàn sau khi có thông tin trên.

Kết thúc phiên giao dịch ngày 24/2, tức 1 ngày sau khi công bố thông tin, cổ phiếu HNG đóng cửa tại mức giá 9.300 đồng/đơn vị, giảm hết biên độ 7% và có khối lượng giao dịch khớp lệnh 18,8 triệu đơn vị, chiếm gần 40% tổng khối lượng giao dịch trong 3 phiên tăng kịch trần trước đó.

Cổ phiếu này còn tiếp tục giảm thêm 5,4% trong ngày 25/2 và thêm 2,3% vào ngày sau đó. Hiện cổ phiếu này đang được giao dịch quanh mức 8.600 đồng/đơn vị.

Hai đại gia lỗ hơn 1.000 tỷ trong thương vụ HAGL là ai?

2 nhà đầu tư chiến lược đã bỏ ra hàng nghìn tỷ đồng để mua 59 triệu cổ phiếu của Công ty cổ phần Nông nghiệp HAGL (HNG) có nhiều điểm chung đặc biệt.

Bà chủ Quốc Cường Gia Lai thế chấp gì để vay 1.600 tỷ?

Thông tin bà Nguyễn Thị Như Loan phải cầm cố tài sản để vay 1.600 tỷ đồng nhận được sự quan tâm từ dư luận nhưng không phải ai cũng biết bà thế chấp gì.

Thế chấp cả tài sản riêng

Tuần này, công ty cổ phần Quốc Cường Gia Lai (QCG) công bố báo cáo tài chính hợp nhất quý 4/2016. Một trong những thông tin từ báo cáo được dư luận quan tâm chính là mẹ doanh nhân Nguyễn Quốc Cường (Cường đô la) – bà Nguyễn Thị Như Loan, Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng giám đốc Quốc Cường Gia Lai cầm cố tài sản vay hơn 1.600 tỷ đồng.

Cụ thể, theo báo cáo tài chính hợp nhất quý 4/2015, ở thời điểm cuối năm, QCG có khoản nợ 1.621,86 tỷ đồng tại ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam – chi nhánh Quang Trung với lãi suất 11,5%/năm. Những khoản vay này đáo hạn từ 30/7/2015 đến 31/12/2015.

Để có được khoản vay này, bà Loan đã thế chấp toàn bộ dự án khu dân cư 6A Phước Kiển và cổ phiếu của riêng bà Loan trong công ty. Bà hiện sở hữu 101,9 triệu cổ phần (37% vốn điều lệ công ty). Khoản vay này được dùng để tài trợ dự án khu dân cư 6A Phước Kiển, Nhà Bè, TPHCM.

Cũng tại ngân hàng này, QCG vay thêm 118,69 tỷ đồng với lãi suất 5%/năm để tài trợ thực hiện dự án nhà ở xã hội. Với khoản vay này, QCG không phải cầm cố tài sản. Ngoài ra, cộng với một số khoản vay khác, chỉ tiêu vay dài hạn trong năm đã tăng lên 1.858,24 tỷ đồng từ con số 1.706,4 tỷ đồng hồi đầu năm 2015.Cùng với vay dài hạn, vay ngắn hạn trong kỳ cũng tăng vọt. Cụ thể, chỉ tiêu vay ngắn hạn đạt 589,83 tỷ đồng, tăng 474,53 tỷ đồng, tương ứng 411,56% so với số đầu năm 2015. Trong những khoản vay này, có khoản vay bà Loan phải thế chấp bằng tài sản cá nhân.

Để vay được 1 khoản vay có số tiền 24 tỷ đồng với lãi suất từ 9% đến 9,5%, mẹ Cường đô la đã phải thế chấp quyền sử dụng đất và các tài sản trên đất ở phường Bình Trung Tây, Quận 2 Tp.HCM và quyền sử dụng đất của 2 lô đất ở thành phố Pleiku.

Điều đáng nói, mặc dù tổng nợ tăng nhưng trong kỳ, chi phí lãi vay lại sụt giảm. Chi phí này chỉ đạt 961 triệu đồng trong quý 4/2015, giảm mạnh so với con số 5,5 tỷ đồng, cùng kỳ 2014, lũy kế cả năm đạt 12,17 tỷ đồng, giảm nhẹ so với con số 20,81 tỷ đồng năm 2014.

Cường đô la chỉ còn 2,5 tỷ

Quốc Cường Gia Lai không chỉ khiến cổ đông lo lắng vì tình trạng nợ nần mà còn khiến cổ đông quay lưng vì hàng tồn kho quá lớn vi doanh thu cả năm đi lùi.

Cụ thể, doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ quý 4/2015 của QCG đạt 180,4 tỷ đồng, tăng 56,37 tỷ đồng, tương ứng 44,73% so với cùng kỳ 2014. Nhưng lũy kế cả năm doanh thu chỉ đạt 391,44 tỷ đồng, giảm 132,09 tỷ đồng, tương ứng 25,23% so với cả năm 2014.

Chỉ số hàng tồn kho đạt 5.444,38 tỷ đồng, tăng 1.324,27 tỷ đồng, tương ứng 32,14% so với cuối năm 2014. Hàng tồn kho chủ yếu tập trung tại dự án khu dân cư 6A Phước Kiển do đang trong quá trình triển khai. Dự án rộng 93 ha tại huyện Nhà Bè, TP HCM được chấp thuận đầu tư năm 2010 và có quy mô 3.798 tỷ đồng.

Vì vậy, cổ phiếu QCG bị nhà đầu tư quay lưng. Kết quả là QCG đã giao dịch dưới mệnh giá suốt thời gian dài qua. Đóng cửa tuần, QCG dừng ở mức 4.600 đồng/CP sau khi giảm 100 đồng/CP. QCG khiến vốn hóa thị trường Quốc Cường Gia Lai giảm 27,5 tỷ đồng xuống 1.265,59 tỷ đồng.

Tuần này, QCG lấy đi 10 tỷ đồng từ tài khoản của bà Loan. Hiện tại, với 469 tỷ đồng, bà Loan đang đứng ở vị trí thứ 35 trong danh sách những người giàu nhất sàn chứng khoán Việt Nam. Bà Loan đứng ngay sau bà Nguyễn Thị Mai Thanh, Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Cơ điện lạnh REE, người chỉ nắm giữ số lượng cổ phiếu bằng 20% lượng cổ phiếu của bà Loan.

Là Phó Tổng giám đốc Quốc Cường Gia Lai nhưng Cường đô la chỉ nắm giữ hơn 500.000 cổ phiếu QCG. Lượng cổ phiếu này có giá trị tương đương 2,5 tỷ đồng.

Nhìn lại một năm thua lỗ của công ty Cường 'đô la'

Cổ phiếu liên tục trượt giảm, tình hình kinh doanh của công ty không ngừng thua lỗ… là những sự kiện đáng buồn trong suốt một năm qua của Công ty cổ phần Quốc Cường Gia Lai.

Đãi ngộ cao, lao động vẫn nghỉ

Nhiều doanh nghiệp tại TP HCM chia sẻ, dù xây dựng chế độ đãi ngộ thế nào đi nữa thì sau Tết, người lao động vẫn nghỉ việc, doanh nghiệp không thể chủ động được kế hoạch sản xuất.

Sau Tết Nguyên đán, con số thống kê lượng lao động nghỉ việc tại các doanh nghiệp luôn ở mức hàng chục nghìn người.

Số liệu từ Trung tâm Dự báo nguồn nhân lực TP HCM cho thấy, số lao động nghỉ việc năm 2015 và 2016 không chênh lệch bao nhiêu, cùng xấp xỉ mức 20.000 người. Như vậy sau nhiều năm, việc thiếu hụt lao động sau Tết vẫn là bài toán khó đối với doanh nghiệp. Dù đã dự đoán trước và xây dựng chế độ tốt hơn rất nhiều nhưng việc ngăn chặn dòng lao động bỏ việc dường như không thể.

Chuẩn bị tiền để trả lương tăng ca

Năm nay, Trung tâm Dự báo nhu cầu nhân lực và thông tin thị trường lao động TP HCM, cho biết sau Tết Nguyên đán, riêng thành phố thiếu khoảng 19.000 lao động, đặc biệt hạng phổ thông. Còn Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Đồng Nai thông báo, các doanh nghiệp tại tỉnh đang thiếu khoảng 31.000 lao động sau Tết.

Ông Trần Kim Quynh, Giám đốc Công ty may mặc Hưng Phú (Gò Vấp) chia sẻ: “Năm nào cũng vậy, việc đầu tiên khi bắt tay vào sản xuất sau Tết chính là tổ chức nguồn tiền để tăng ca, làm việc kịp tiến độ đơn hàng cho đối tác. Việc tiếp theo là phải càng nhanh càng tốt tìm kiếm lao động mới bù vào chỗ những công nhân đã nghỉ sau Tết cho đủ công suất chuyền. Công nhân ngành may lại phải mất vài tuần để đào tạo tay nghề. Chính vì vậy trong 2 tháng đầu năm, doanh thu của công ty chủ yếu bù đắp vào các chi phí tuyển dụng và đào tạo”.

Lương thưởng luôn là yếu tố đầu tiên để đánh giá tình trạng này. Nhiều chuyên gia cho rằng, tỷ lệ tăng lương bình quân hiện nay của Việt Nam là tương đối cao, nhưng so với mặt bằng chung vẫn còn thấp và sự chênh lệch cũng tương đối lớn. Lý do cơ bản nhất chính là trình độ cũng như năng suất lao động tương đối thấp so với các quốc gia trong khu vực.

Đãi ngộ cao, lao động vẫn nghỉ
Theo các doanh nghiệp, thường sau các đợt nghỉ dài, người lao động phổ thông thường có tâm lý nghỉ việc để tìm cơ hội mới. Ảnh: Lê Quân.

Ở Việt Nam, lương thưởng, đặc biệt là thưởng trong dịp Tết là một trong những chính sách đãi ngộ của doanh nghiệp, nhằm giữ chân nhân viên.

Một khảo sát mới đây của Jobstreet Việt Nam cho biết, tỷ lệ người lao động nghỉ việc vì chế độ lương thưởng là không nhiều, chỉ khoảng 16%. Cũng không hẳn là lao động từ các ngành nghề như may mặc, thực phẩm mới nghỉ việc nhiều. Năm nay nguồn nhân lực của ngành công nghệ thông tin cũng đang chứng kiến việc lao động nghỉ việc tăng lên.

Tuy nhiên, theo một tổ chức nghiên cứu về nguồn lao động và giới thiệu việc làm toàn cầu khảo sát mới đây, có đến 16,7% không được thưởng Tết. Mức thưởng dưới 1 tháng và 1-2 tháng chiếm tỷ trọng cao nhất, lần lượt 35,6% và 31,5% trong số các lao động được khảo sát.

Khu vực ít biến động nhất chính là lao động tại lĩnh vực khai thác khoáng sản, xăng, dầu và khí đốt, vì họ nhận được mức thưởng cao nhất. 14% số lao động được khảo sát gần đây bởi Navigos Search cho biết, họ nhận được hơn 4 tháng lương thưởng. Trong khi đó, những ngành nghề có mức độ thâm dụng lao động cao như may mặc, gia công thủy hải sản, thực phẩm... thì mức lương thưởng được cho là không đủ để khích lệ.

Đãi ngộ tốt cũng khó giữ lao động

Tuy nhiên ông Quynh chia sẻ, nỗi sợ về thiếu hụt lao động sau Tết luôn ám ảnh các doanh nghiệp gia công. Do đó, trong nhiều năm qua, mức đãi ngộ đã tăng lên đáng kể.

"Dẫu vậy, sự cạnh tranh lao động có tay nghề trong ngành các ngành gia công, sản xuất là một lý do khiến cho việc ổn định nguồn lao động ngày một khó hơn. Trong khi đó, tâm lý người lao động luôn dao động, nên việc họ nghỉ nhiều khi không phụ thuộc vào vấn đề đãi ngộ. Nay họ nghe nơi này tốt, mai họ nghe nơi khác tốt, mình cũng không thế kiểm soát”.

Bà Nguyễn Thị Phương Thảo, CEO của Công ty dịch vụ số hóa tài liệu Digitexx cũng bày tỏ: “Với mục tiêu mở rộng chi nhánh trong năm tới nên nhu cầu gia tăng nhân sự trong công ty là rất lớn. Tuy nhiên việc tìm kiếm nguồn lao động chưa hoàn tất thì lại phải đối phó với việc lao động cũ nghỉ việc. Trước Tết, công ty đang hoạt động với khoảng 1.300 nhân sự, bước vào những ngày đầu năm mới số lượng lao động nghỉ việc chiếm khoảng 7%. Như vậy để ổn định công việc thì cũng phải mất thêm thời gian.”

Rút kinh nghiệm từ nhiều năm trước, để đỡ mất thời gian và chi phí cho các hoạt động tuyển dụng sau Tết, nhiều doanh nghiệp đã đưa ra mức đãi ngộ tương đối cao. Thậm chí hỗ trợ tối đa cho việc về quê ăn Tết, tuy nhiên khi đi làm cũng phải bắt đầu một chu kỳ tương tự năm trước.

Bà Thảo chia sẻ: “Xây dựng chế độ đãi ngộ tốt chỉ là một yếu tố nhỏ trong việc giữ chân người lao động. Chế độ tốt cũng phải tương xứng với năng suất lao động và doanh thu của doanh nghiệp. Phần lớn người lao động phổ thông sẽ nghĩ đến nhảy việc sau kỳ nghỉ, để tìm cơ hội khác. Đây là đối tượng lao động dễ bị chi phối nhất. Kỳ nghỉ dài ngày đã khiến họ bị tác động bởi nhiều người khác, với những lời giới thiệu chỗ làm khác. Thêm vào đó, họ luôn hy vọng sự thay đổi vào năm mới sẽ mang lại nhiều kết quả tốt hơn. Vì vậy doanh nghiệp không chủ động được tình trạng này, dù có nâng mức đãi ngộ như thế nào”.

Thứ Bảy, 27 tháng 2, 2016

Petrolimex báo lãi gấp hơn 10 lần năm 2014

Theo báo cáo tài chính hợp nhất năm 2015, Petrolimex lãi trước thuế tới hơn 3.766 tỷ đồng, gấp hơn 10 lần so với cùng kỳ năm 2014.

Tổng công ty xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) vừa công bố báo cáo tài chính riêng của công ty mẹ, cũng như hợp nhất của cả Tổng công ty năm 2015. Theo đó, công ty mẹ có tổng lợi nhuận trước thuế trong quý IV/2015 là 1.824 tỷ đồng. Con số này trái ngược với mức lỗ gần 800 tỷ đồng vào quý IV/2014.

Sau khi trừ thuế thu nhập doanh nghiệp, công ty mẹ Petrolimex lãi khoảng 1.800 tỷ đồng, luỹ kế cả năm đạt mức lợi nhuận hơn 2.141 tỷ đồng, gấp gần 37 lần mức lãi của năm 2014.

Petrolimex báo lãi gấp hơn 10 lần năm 2014
Petrolimex lãi đậm, gấp 10 lần so với năm ngoái. Ảnh: Lê Hiếu.

Hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ là một trong hai mảng mang lại doanh thu và lợi nhuận chủ yếu cho doanh nghiệp, nhờ vào giá vốn bán hàng thấp hơn hẳn so với năm 2014. Hoạt động tài chính mang lại khoản doanh thu lên tới 1.430 tỷ đồng cho công ty mẹ, trong khi chi phí tài chính chỉ bằng 20% so với năm ngoái đã mang tới kết quả kinh doanh khởi sách hơn hẳn cho Petrolimex.

Báo cáo hợp nhất cũng cho thấy con số lợi nhuận vượt trội, khi đạt mức lãi trước thuế quý IV là 1.130 tỷ đồng và cả năm hơn 3.766 tỷ đồng, gấp hơn 10 lần năm 2014. Lợi nhuận sau thuế cả năm của toàn tổng công ty là 3.138,5 tỷ đồng, trong khi cùng kỳ năm ngoái ghi nhận số lỗ hơn 9 tỷ đồng.

Giải trình về chênh lệch kết quả kinh doanh với Uỷ ban chứng khoán nhà nước, Petrolimex cho biết nguyên nhân là trong năm 2015, tốc độ tăng trưởng kinh tế cả nước đạt trên 6,68% đã giúp các công ty con của tập đoàn thuộc một số lĩnh vực như hoá dầu, bảo hiểm, vận tải, dịch vụ… đạt kết quả kinh doanh khả quan.

Ngoài ra, giá xăng dầu quý IV/2015 của thế giới có xu hướng giảm nhưng không trầm trọng như cùng kỳ năm 2014 đã khiến ảnh hưởng lên tồn kho theo tháng cũng bớt căng thẳng hơn năm ngoái, giúp giảm các khoản trích lập dự phòng do giá nhiên liệu. Trong khi đó, sản lượng bán xăng dầu tại thị trường nội địa tăng 8% so với năm ngoái đã giúp gia tăng doanh thu cho Tổng công ty.

'Hãy thôi nuông chiều doanh nghiệp dầu khí'

Nhiều chuyên gia cho rằng, đã đến lúc ngành dầu khí phải tự thoát ra khỏi sự bảo hộ, vì đến nay muốn nuông chiều cũng không được nữa.


Làn sóng mở rộng mới của ngân hàng Việt

Sau 5 năm, hệ thống ngân hàng Việt Nam mới lại đón nhận một làn sóng thực sự về mở rộng mạng lưới. Có nhiều vấn đề xoay quanh chứ không đơn thuần chỉ là một xu hướng phát triển.

Ngay ngày làm việc đầu tiên sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán, Ngân hàng Bản Việt (Viet Capital Bank) thông báo tuyển gần 200 nhân sự mới, có cả vị trí giám đốc chi nhánh.

Một ngân hàng quy mô còn nhỏ có kế hoạch tuyển dụng lớn. Nhưng không phải “làm hàng”, mà là nhu cầu thực.

Cầu xây xong đã lâu

Chỉ trong quý IV/2015 đến đầu 2016, một loạt chi nhánh, phòng giao dịch mới của các ngân hàng thương mại được cấp phép. Hơn 20 ngân hàng thương mại được cấp phép mở gần 100 chi nhánh và phòng giao dịch mới (một phần nhỏ được chuyển đổi từ quỹ tiết kiệm) chỉ trong chưa đầy hai tháng đầu năm nay.

Như trên, Viet Capital Bank là một điển hình. Kế hoạch tuyển 200 nhân sự mới nhằm đáp ứng nhu cầu mở thêm 10 chi nhánh và phòng giao dịch vừa được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước chấp thuận.

Nhiều thành viên khác cũng được cấp “hạn mức” mở thêm từ 6-10 chi nhánh, phòng giao dịch; cũng như trong năm 2015 một số trường hợp đã được cấp với quy mô lớn.

Làn sóng mở rộng mới của ngân hàng Việt
Chỉ trong quý IV/2015 đến đầu 2016, một loạt chi nhánh, phòng giao dịch mới của các ngân hàng thương mại được cấp phép.

Theo dõi ở diễn biến hoạt động này của hệ thống các ngân hàng Việt Nam, đây là giai đoạn có tần suất và mức độ cấp phép nhiều nhất trong vòng 5 năm qua.

Trước đây, từ đầu năm 2011, Ngân hàng Nhà nước đã từng hãm phanh. Tại thời điểm đó, lý do nhà điều hành đưa ra là để hoàn thiện khung pháp lý mới.

Trong khi chờ đợi soạn thảo và ban hành thông tư hướng dẫn cụ thể về nội dung này, Ngân hàng Nhà nước có công văn hướng dẫn kèm theo các điều kiện khá riêng, cũng như ngừng hẳn việc cấp phép đối với những ngân hàng chưa đáp ứng được yêu cầu vốn pháp định.

Trước năm 2011, thị trường từng chứng kiến hoạt động mở rộng mạng lưới ồ ạt của các ngân hàng thương mại. “Ra ngõ gặp ngân hàng” là câu nói ra đời trong bối cảnh này.

Nói một cách hình ảnh, chiếc cầu cấp phép chi nhánh và mạng lưới mở cho một lưu lượng lớn đi qua, dễ phát sinh lộn xộn trong hoạt động. Thực tế này đặt trong bối cảnh lạm phát liên tục leo thang, lãi suất nhức nhối tình trạng vượt trần, cạnh tranh không lành mạnh trong hệ thống…

Nhà quản lý phải xây cầu mới. Thời gian xây càng lâu, lưu lượng đi qua càng hạn chế. Hay, việc cấp phép mở chi nhánh mới cho các ngân hàng giai đoạn 2011-2013 có thể xem là chuyển sang phương tiện “thuyền bè”, khi lượng cấp phép ít nhất so với nhiều năm trước.

Phải đến tháng 9/2013, Thông tư 21 quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại mới được ban hành. Cầu đã xây xong, nhưng phải đến nay thị trường mới chứng kiến tần suất cấp phép, cũng như làn sóng lập mới chi nhánh và phòng giao dịch lớn như hiện nay. Diễn biến và tần suất đó tất nhiên là có nguyên do.

Vượt được rào thì qua 

Khi đã có thông tư quy định cụ thể, căn theo các điều kiện, nếu ngân hàng đáp ứng được thì giấy phép khó có thể trì hoãn thêm. Nhưng vì sao “cầu xây xong đã lâu” mà đến nay mới thực sự có đợt cấp phép với quy mô lớn như vậy?

Trước hết, Thông tư 21 đưa ra các điều kiện kỹ thuật cao hơn, chặt chẽ hơn và gắn sát với thực tế tình hình sức khỏe của mỗi ngân hàng. Để lập một chi nhánh mới nội thành Hà Nội hoặc TP HCM, ngân hàng đó phải có vốn điều lệ (giá trị thực) đối ứng 300 tỷ đồng; ở các tỉnh thành khác là 50 tỷ đồng.

Ngân hàng đó phải hoạt động có lãi, không vi phạm các tiêu chuẩn an toàn hoạt động. Đặc biệt, ngân hàng phải thực hiện đúng, đầy đủ các quy định về phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro; tỷ lệ nợ xấu không vượt quá 3%.

Những điều kiện trên đã loại nhiều ngân hàng thương mại ra khỏi diện được cấp phép mở chi nhánh mới.

Bởi lẽ, việc đáp ứng các điều kiện được thanh tra, giám sát chặt chẽ theo quá trình tái cơ cấu toàn hệ thống; càng khó khăn hơn khi Ngân hàng Nhà nước lần lượt áp chuẩn cao hơn, chặt hơn trong phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro, cũng như trong xác định các giới hạn an toàn hoạt động.

Riêng ở điều kiện nợ xấu không quá 3% cũng đã dễ nhận thấy nhiều trường hợp không thể vượt rào kỹ thuật để xin cấp phép trong năm 2013 và 2014. Ở điều kiện này, sau năm cao điểm 2015 bán lại nợ xấu cho VAMC, nhiều thành viên đã đáp ứng được.

Đến nay, sau hai năm củng cố và chấn chỉnh lại theo các điều kiện, nhiều thành viên đã đáp ứng được các tiêu chuẩn, vượt được rào kỹ thuật và việc cấp phép khó có thể trì hoãn thêm.

Ở một khía cạnh nhất định, việc hàng loạt ngân hàng được cấp phép mở nhiều chi nhánh, phòng giao dịch mới thời điểm này có thể xem là một dấu hiệu về tình hình sức khỏe và chuẩn mực hoạt động đã cải thiện, đảm bảo theo yêu cầu của Ngân hàng Nhà nước (qua các điều kiện tại Thông tư 21).

Thế nhưng, làn sóng mở rộng mạng lưới hiện nay cũng đẩy lên những vấn đề đáng chú ý.

Cạnh tranh mới, áp lực mới

Trở lại với thời điểm đầu 2011, có những nguyên do ẩn sau hướng hạn chế cấp phép của Ngân hàng Nhà nước.

Thời điểm đó, từng có những ý kiến cho rằng hoạt động mở mới chi nhánh, phòng giao dịch của các ngân hàng thương mại quá nhiều cũng như đổ thêm dầu vào lửa lạm phát. Dòng vốn đầu tư lớn ở hoạt động này, cùng các lĩnh vực xây dựng, bất động sản, lao động… liên quan được kích hoạt thêm, đi ngược với quan điểm “đánh vào tổng cầu” từng nổi bật giai đoạn đó.

Đáng quan ngại hơn, việc ồ ạt mở mới các điểm kinh doanh ngân hàng, áp lực kinh doanh càng dễ đẩy cao tình trạng vượt trần lãi suất, “đi đêm”, cạnh tranh không lành mạnh trong hệ thống…

Nay, trước hàng trăm chi nhánh, phòng giao dịch ngân hàng đang và sắp được mở mới, môi trường và áp lực cạnh tranh trong hệ thống sẽ quyết liệt hơn nữa. Cạnh tranh quyết liệt hơn, lợi ích khách hàng có cơ hội để được nâng cao hơn. Nhưng liệu có hạn chế được những lo ngại như trước đây? 

Trong cạnh tranh cho vay, lo ngại là chất lượng tín dụng. Trong cạnh tranh huy động, lo ngại là lãi suất tăng lên. Thực tế, nợ xấu vẫn đang tồn đọng lớn trong hệ thống; lãi suất thì đang có dấu hiệu tăng trở lại.

Vì sao Eximbank, Sacombank và ABBank thua lỗ?

Cùng lỗ thảm hàng trăm tỷ đồng trong quý IV/2015, Eximbank, Sacombank và ABBank cùng có chung “tử huyệt”.